Nhãn

Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn VĂN. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 26 tháng 7, 2026

CỤ CỬ PHONG


       

Thầy Lê Thái Phong



 THÁI VĂN SINH


Hè năm 1979, sau kỳ thi tuyển từ Cấp 2 Năng khiếu tỉnh lên Cấp 3 Năng khiếu Phan Bội Châu, gặp cậu bạn Chu Vĩnh Hải, người đã đến nhập học trước mấy ngày, tôi hỏi:
-          Cậu gặp chủ nhiệm lớp rồi à, thế nào?
-         Thầy giáo, đẹp trai, có ria con kiến. Thầy mới chuyển từ Hương Sơn về - Hải trầm trồ.
Thế rồi chúng tôi gặp thầy và thầy đã cuốn hút chúng tôi ngay từ những giờ giảng đầu tiên. Kiến thức thâm sâu, bài giảng mở và đặc biệt là có rất nhiều tri thức luân lý. Chúng tôi không chỉ được học kiến thức văn chương  mà còn được học những kiến thức làm người. “Văn học là nhân học”, dạy văn chính là dạy làm người. Đó là triết lý giáo dục của thầy. Những kiến thức văn chương và những kiến thức làm người mà chúng tôi học từ thầy đã theo suốt cuộc đời chúng tôi. Chúng tôi gọi thầy trìu mến là Cụ Cử Phong.
Vào đại học tôi không  học Khoa Văn nhưng những kiến thức văn chương mà tôi có để sử dụng cho đến nay đa phần có được từ những giờ giảng của thầy trong 3 năm học cấp 3. Tôi đi dạy, làm báo, làm văn đều từ cái nền tảng kiến thức mà thầy đã dạy. Kỳ lạ là những kiến thức đó cho đến nay tôi vẫn “đủ dùng”. Không phải là lạc hậu đâu vì tôi đã từng khảo nghiệm nhiều bạn Tốt nghiệp Khoa Văn  nhiều trường đại học nhưng các bạn ấy vẫn không có được khá nhiều những  kiến thức văn chương cơ bản mà thầy đã dạy chúng tôi. 
Cũng như văn chương, việc làm người của chúng tôi mang đậm dấu ấn của thầy. Chúng tôi chẳng bao giờ quên được lời thầy: “Hàn vi chi giao bất khả vong”. Chính vì vậy mà cả lớp trên 30 bạn dù đã gần 40 năm ra trường mà tình cảm vẫn gắn bó như ngày xưa, không phân biệt sang hèn, giàu nghèo. Ứng xử trong cuộc sống, chúng tôi vẫn nhớ nguyên lý thầy từng dạy: “Cái quan định luận” (Khi người ta mất đi, đóng nắp hòm lại mới có thể kết luận người ấy tốt xấu ra sao) để không hồ đồ, hấp tấp trong việc nhìn người, ứng xử với người. Thầy còn khuyến khích chúng tôi sống phải có cá tính, có góc cạnh, bản sắc riêng, không được “mài hết góc cạnh để tròn như hòn bi ve” (nguyên văn lời thầy hay dùng). Chính vì vậy mà giữa bao biến động của cuộc đời chúng tôi vẫn là chính mình, sống theo luân thường đạo lý và biết tôn trọng sự khác biệt.
Gần 40 năm, học trò bao thế hệ vẫn luôn nhớ về thầy. Riêng chúng tôi, nhóm học trò công tác ở Nghệ Tĩnh thì đã thành lệ, mỗi năm ít nhất 1 lần vào dịp 20/11 hoặc dịp Tết đều rủ nhau đến thăm thầy.
Không biết các bạn như nào nhưng đối với tôi, thầy Lê Thái Phong là người thầy ấn tượng  nhất trong suốt cả chặng đường học tập của mình. Hôm nay nghe tin thầy ốm nằm viện cả tháng trời mà giờ mới biết, viết mấy dòng về thầy cho đỡ áy náy tâm can, để Chủ Nhật này (4/6/2020) rủ cả bọn ra thăm Cụ Cử Phong./.
                                                                                           01/6/2020
 THÁI VĂN SINH



Chủ Nhật, 3 tháng 7, 2022

ĐỌC “NGÀN TIẾNG ĐỜI ẤP Ủ’’ CỦA ĐINH NHO TUẤN

 



THÁI VĂN SINH


             Nếu như năm 2018, khi đã ngoài 50 tuổi, trìnhg làng tuyển thơ đầu tiên “Em hãy cho anh vội”, Đinh Nho Tuấn là một cái tên lạ trong làng thơ thì năm 2022, với “Ngàn tiếng đời ấp ủ” tập thơ thứ tư của anh xuất bản trong 5 năm lại nay, Đinh Nho Tuấn đã là một tên tuổi quen thuộc của bạn yêu thơ cả nước. Thơ anh đã được dùng ra đề trong kỳ thi, được ấp iu trong các thi viện trên mạng xã hội, được đọc trong các hội thơ và được trích dẫn khá nhiều trong các bài luận.

          Có thể nói “Ngàn tiếng đời ấp ủ” là sự tiếp nối mạch nguồn cảm xúc của một hồn thơ được bùng phát ở sau tuổi “tri thiên mệnh”.  Giản dị, chân thành, không lên gân, làm điệu, 78 bài trong “Ngàn tiếng đời ấp ủ” là những lời tâm sự thầm thỉ, đầy tâm trạng trước bao lát cắt của cuộc sống:“Trầm đục trong cuộc đời bươn chải/ Mây thời gian là số phận con người/ Không điểm dừng ơ thờ trôi mải miết/ Chớp mắt thôi, rơi rụng một thời” (Sẽ là không, sẽ không còn gì cả).

          Trong “Ngàn tiếng đời ấp ủ” chúng ta thấy “nhớ” đã trở thành cảm thức chủ đạo của Đinh Nho Tuấn. Nó là những hồi quang quá khứ da diết, khó quên:“Quê hương ta phong phanh nỗi nhớ/ Rơm rạ ngủ vùi, sương khói ngày đông/ Lửa tí tách trong lòng người viễn xứ/ Như củi như than khắc khoải bập bùng” (Mùa đông quê hương); Là nỗi nhớ khắc khoải về người cha: “Tiếng mồ hôi rơi vai người chài lưới/ tiếng lửa reo trong chiều lạnh nhẩn nha/ ông giáo già đọc thơ bên bàn cũ/ âm thanh nào cũng làm con nhớ về Cha” (Tiếng); Là cõi nhớ tình yêu trong trắng một thời: “Từ đỉnh ngàn trăng em kéo qua/ hiền lương năm tháng ấm hồn ta/ hình em giông bão không tỳ vết/ cõi nhớ dựng lên giữa ngày nhoà” (Cõi nhớ).  thậm chí nhớ cả một lời khuyên ý vị tự thuở nào: “Ta bỗng nhớ một tuổi thơ em bảo/ Mai đi xa đừng sống giữa chiêm bao”.

           Ngoài “nhớ”,“Ngàn tiếng đời ấp ủ”của Đinh Nho Tuấn còn “ghi” muôn tiếng nhân sinh. Đó là cảm xúc rất “thiền” về sự ra đi của một nhạc sỹ tài hoa: “Gió quấn người như tã lót/ Miền bất tử người sinh ra”(Bài thơ đưa tiễn); Về sự thực phũ phàng của Covid -19: “Gần hai ngàn đứa trẻ mất cha mất mẹ/ Có bé hai ngày tuổi/ Có bé còn lại một mình/ Những thiên thần búp bê mồ côi” (Búp bê mồ côi); Về phận con người: “Tôi nghĩ những người nông dân/ trên đất nước tôi là những người dùng lại/ mặc dù họ đang đi” (Nông dân). Và cả những triết lý ở đời:“Dòng sông chảy, phận người cũng chảy/ Đem phù sa dào dạt tới tương lai/ Bồi hiến dâng và tình yêu bờ bãi/ Như sao trời vỗ những sáng mai (Những dòng sông).

         Thơ Đinh Nho Tuấn dễ đọc, dễ cảm nhưng không hề dễ giải, càng đọc càng ngấm, càng thấy nhiều tầng vỉa của câu/tứ: “Những chân trời xa/ Bắt đầu từ bậu cửa nhà ta/ Con bay đi/ Tiếng vỗ cánh rơi vào lòng cha mẹ” (À ơi ru những góc trời);  “Dấu chấm hết thực hơn trong sách vở/ Khó tẩy xoá bằng nước mắt từ bi” (Gia cuối cùng); “Không một giọt thu nào sót lại/ Người thèm quay quắt gió heo may”(Hà Nội ngày mặt trời).

              Với “Ngàn tiếng đời ấp ủ” Đinh Nho Tuấn đã thể hiện được tuyên ngôn sống, tuyên ngôn thơ của mình: “Ta sống làm sao khỏi nhạt/ Ừ thì cứ sống thế thôi/ Trước sau không thêm muối ớt/ Xoã ra vui thú với đời” (Ừ thì). Chúc mừng Đinh Nho Tuấn đã không nhạt cả đời, cả thơ. Chúc mừng bạn yêu thơ đã có một tập thơ xứng đáng được yêu, được quý./.

Hà Tĩnh, 21.6.2022 

T.V.S

Thứ Hai, 20 tháng 4, 2020

VỚI NHÀ VĂN ISABELLE MULLER CHUYỆN BÂY GIỜ MỚI KỂ

Mời các bạn bấm vào 2 đường link sau để xem phim


Isabelle Muller tặng sách Loan - từ cuộc đời
 của một con chim Phượng Hoàng”



THÁI VĂN SINH

         Isabelle Muller là nhà văn Pháp/Đức có quê ngoại ở Thạch Đài, thành phố Hà Tĩnh. Bà là tác giả của cuốn sách “Loan - từ cuộc đời của một con chim Phượng Hoàng” viết về cuộc đời truân chuyên của mẹ Đậu Thị Cúc, là một trong 5 quyển sách hay ở Đức năm 2015. Bà đã dùng nhuận bút quyển sách này thành lập quỹ “Loan”, và vừa qua bà đã triển khai 12 chương trình, dự án với tổng số tiền viện trợ cho học sinh dân tộc ở Hà Giang là 6,8 tỷ đồng. Cuối tháng 10/2019, bà đã về thăm Hà Tĩnh và tổ chức giới thiệu phim “Loan - Phượng Hoàng tái sinh” và sách “Loan- từ cuộc đời của một con chim phượng hoàng” rất thành công. Tôi xin kể với các bạn một số chuyện về việc đã tham gia tổ chức sự kiện nói trên.

Ngày 07 tháng 10 năm 2019, tôi được giao nhiệm vụ chuẩn bị kế hoạch và phương án hỗ trợ nhà văn Isabelle Muller tổ chức các hoạt động, sự kiện tại Hà Tĩnh theo công văn 6637/UBND-KT1 của UBND tỉnh. Lần đầu thực hiện một nhiệm vụ mang tính đối ngoại, nhạy cảm và hầu như không có thông tin cụ thể, chính thức về nhà văn, ngoài mấy thông tin sơ sài của Công ty TNHH Khu công nghiệp Việt Đức (GVIP) cung cấp, đại ý: Isabelle Muller có gốc gác là người Hà Tĩnh, là tác giả của cuốn sách “Loan - từ cuộc đời của một con chim Phượng Hoàng” đã được dịch và tái bản ở Việt Nam lần thứ 3. Bà sẽ đến Hà Tĩnh trong 2 ngày: 24 và 25 tháng Mười để giới thiệu cuốn sách Loan-từ cuộc đời của một con chim Phượng Hoàng” và bộ phim “Loan - theo dấu chân bà mẹ Việt” và đi làm từ thiện cho các học sinh nghèo người dân tộc.
Để tiếp đón và tổ chức các sự kiện cho một đoàn khách có yếu tố nước ngoài rõ ràng những thông tin sơ sài như vậy quả là thách đố. Người thì còn ở Đức, sách thì không có, phim cũng không luôn. Đúng lúc này lại có vụ việc Hội đồng thẩm định phim quốc gia sai sót về việc duyệt phim “Everest - Người tuyết bé nhỏ” có đường lưỡi bò, ồn ã trên báo chí và mạng xã hội. Thế là lãnh đạo chỉ đạo: sách phải là bản gốc, phim phải có giấy phép mới được chiếu, sai sót trách nhiệm nặng lắm đấy, anh không gánh được đâu. Đúng là hết khổ. Sách thì Nhà xuất bản Trẻ tái bản lần thứ 3 rồi, còn phim là tác phẩm báo chí phát trên VTV 9 Đài tuyền hình Thành phố Hồ Chí Minh thì làm sao mà có giấy phép được. Quý IV, việc ngập đầu, phòng lại chỉ còn duy nhất một mình tôi (02 cán bộ nghỉ hưu chưa tuyển kịp, một nữa nghỉ sinh), rõ là nhức cả đầu. Nhưng chẳng lẽ lại làm văn bản xin không tổ chức sự kiện này nữa. Làm thế ảnh hưởng đến quan hệ đối ngoại. Đúng là “làm thì khó mà bỏ không xong”. Liên lạc tìm hiểu thêm với GVIP – đơn vị đề xuất triển khai sự kiện này thì tiếp tục được cung cấp thông tin rằng Isabelle Muller quê ở Hương Khê và nếu muốn biết thêm chi tiết thì phải liên lạc với các cộng sự của bà Isabelle Muller ở Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Giang. Điều làm tôi vất vả và cười ra nước mắt chính là những thông tin mà GVIP cung cấp vì không những sơ sài mà còn thiếu chính xác. Sau này mới vỡ ra là tên của bộ phim không phải là “Loan - theo dấu chân bà mẹ Việt” mà là “Loan - phượng hoàng tái sinh” và Isabelle Muller không phải quê ở Hương Khê mà ở ngay Thạch Đài, thành phố Hà Tĩnh. Thế là phải thay đổi ma-két sự kiện, phải điều chỉnh cả chương trình làm việc.


Isabelle Muller với nhóm tổ chức sự kiện. 

Lại lọ mọ tìm cách liên lạc với nhà văn Trầm Hương, đạo diễn Nguyễn Hoàng ở Thành phố Hồ Chí Minh, với phiên dịch Bùi Thị Thu Hương ở Hà Giang để biết những thông tin cơ bản như: Thành phần và số lượng thành viên của đoàn; Lịch trình dự kiến khi đến Hà Tĩnh; Bố trí ăn nghỉ ra sao, quà tặng thế nào; Cách thức tổ chức giới thiệu sách và phim …vv và vv. Nghĩa là tất cả những thông tin “bếp núc” để tổ chức sự kiện. Rất may là thời đại 4.0 nên chỉ cần điện thoại và gửi e-mail trao đổi qua lại mà chỉ trong mấy ngày tôi cũng lấp đầy được những thông tin còn thiếu để xây dựng một kế hoạch và chương trình chi tiết trình UBND tỉnh duyệt cho triển khai.
Tuy nhiên chỉ một ngày trước sự kiện, khi mọi chuyện gần như đã rất ổn (trừ cái giấy phép của bộ phim sẽ trình chiếu là chưa có), thì lại nhận được một thông tin đột xuất: Bà Trương Mỹ Hoa, nguyên Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Phó Chủ tịch nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam,  Phó Chủ tịch Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt NamĐại sứ Nguyễn Hữu Tráng, nguyên tham tán Thương mại tại Cộng hòa Liên Bang Đức sẽ vào dự buổi giới thiệu sách. Thế là lại xáo trộn cả chương trình, lại phải xin ý kiến và chỉnh sửa hàng loạt nội dung liên quan việc tiếp đón, bố trí phát biểu của hai nhân vật quan trọng này.


Isabelle Muller với người thân trong gia đình. Ảnh TVS

Ơn trời, vất vả nhưng rồi mọi chuyện cũng qua. Chiều 24/10, ngay những giây phút đầu tiên gặp nhau, Isabelle Muller đã rất thiện cảm khi biết tôi cùng tuổi và lại là một nhà báo. Lần đầu tiên gặp nhau nhưng tôi cùng Isabelle Muller và 5 cộng sự của bà cởi mở như đã quen biết từ lâu. Chúng tôi cùng về nhà người thân của Isabelle Muller, chứng kiến những giọt nước mắt đoàn tụ của họ, chứng kiến Isabelle Muller thành kính thắp hương làm lễ báo cáo tổ tiên trong khu mộ gia tộc của bà ở Thạch Đài. Tối hôm ấy trong tiệc chiêu đãi của tỉnh với đoàn, tôi mời nhà văn Đức Ban, nhà văn Phan Trung Hiếu, nhà văn Trần Quỳnh Nga ngồi cạnh Isabelle Muller. Isabelle Muller đã rất cảm kích khi được trò chuyện với những người cùng giới văn chương. Đi cả một quãng đường dài liên tục từ Đức về Hà Nội rồi từ Hà Nội về Hà Tĩnh nhưng có lẽ tình quê hương đã làm Isabelle Muller quên cả mệt mỏi trò chuyện đến khuya. Chúng tôi nói đủ chuyện, từ văn chương, nghệ thuật cho đến chương trình ngày mai. Tuy nhiên, trước khi kết thúc buổi giao lưu, một tình huống “trái chèo” xuất hiện: một số người dự tiệc cho rằng sáng mai đi tặng quà ở Hương Khê sẽ không về kịp để tổ chức lễ ra mắt sách và phim vào buổi chiều. Đúng là trái khoáy. Lịch đã lên đúng từng phút và đã được duyệt, các nơi nhận quà cũng đã được thông báo chuẩn bị, nếu nghe theo những ý kiến này thì xem như “cháy vở”. Rất khó giữ bình tĩnh nhưng tôi cũng chứng minh được rằng lịch trình của tôi đã tính toán rất kỹ vì tôi đã nhiều lần đến bản Rào Tre dân tộc Chứt ở Hương Liên. Riêng năm này tôi đã có 3 lần lên bản và lần gần nhất chỉ cách thời điểm này 4 tuần và đã ở đó gần một tuần để khảo cứu dân tộc học cùng Tiến sỹ Vi Văn An. Tôi sẵn sàng chịu trách nhiệm nếu như không thực hiện đúng lịch trình mà tôi đã xây dựng. Thực sự mà nói những người này băn khoăn là đúng vì họ không có thực tiễn, đa phần chỉ nghe nói chứ chưa đến đó bao giờ. Tuy nhiên họ cứ phán như thật. Điều này chúng ta vẫn thường thấy trong khá nhiều chuyện hằng ngày. May mà tôi kiên quyết để bảo vệ hành trình không thì Isabelle Muller và đoàn sẽ không có được chuyến đi ý nghĩa, thú vị và đầy cảm xúc vào sáng hôm sau.


Isabelle Muller  với học sinh trường THCS Hương Liên. Ảnh TVS

7 giờ sáng ngày 25/10, đoàn xuất phát đi Hương Khê để trao quà cho các học sinh dân tộc trong thời tiết mưa tầm tã. Tuy nhiên cả đoàn đi với tâm trạng rất vui vẻ. Tôi giới thiệu cho Isabelle Muller về những điểm mà đoàn sẽ đến trao quà và dân tộc Chứt ở bản Rào Tre. Tôi cũng giới thiệu thêm rằng ở Hương Vĩnh, Hương Khê còn có Bản Giàng, người dân tộc Lào di cư sang. Nghe đến đây Isabelle Muller liền hào hứng nói rằng bà ngoại của cô ấy là người Lào lấy ông ngoại là người Mọi ở Hà Tĩnh. Mẹ bà kể rằng ông ngoại thường đi sang Lào săn bắn để nuôi gia đình. Ông ngoại cả đời chỉ đóng khố, chỉ khi nào có lễ lạt mới đem bộ quân phục hồi đi lính cho Pháp ra mặc. Mẹ của Isabelle Muller đã sinh trên đường ông bà ngoại mang vật phẩm săn bắn được đi Hải Phòng bán... Isabelle Muller say sưa kể, mắt nhìn ra núi đồi găng mắc xa xa như tìm kiếm quá khứ qua lời kể ngày xưa của mẹ.



Isabelle Muller  với học sinh dân tộc Chứt. Ảnh TVS

8 giờ đoàn đến Trường THCS và PTTH dân tộc nội trú Hà Tĩnh tại thị trấn Hương Khê. Thầy cô và học sinh đã tập trung đông đủ, họ hiếu kỳ gặp một nhà văn người Pháp, có mẹ người Hà Tĩnh hơn là nhận các phần quà. Không nghi thức rườm rà, Isabelle Muller phát biểu và trao 15 suất quà cho các học sinh ở đây rồi giao lưu chụp ảnh, chuyện trò rất tự nhiên với học sinh và thầy cô giáo. Gần 9 giờ, chúng tôi tiếp tục hành trình đến Trường tiểu học xã Hương Liên. Đến nơi, Isabelle Muller được chứng kiến một cảnh tượng làm cô rất xúc động, học sinh xếp hàng kín sân trường chào đón với cờ hoa long trọng. Phát biểu mấy lời ngắn gọn và trao 21 suất quà cho các em học sinh người Chứt xong Isabelle Muller ào vào giữa hàng trăm học sinh chụp ảnh với các em. Đạo diễn Nguyễn Hoàng và nhiếp ảnh gia Corinna Buchholz rất vất vả mới hoàn thành nhiệm vụ tác nghiệp. 10 giờ đoàn mới dứt được giao lưu ở đây để đến Trường mầm non Hương Liên điểm trường Bản Rào Tre. Có lẽ đây là điểm Isabelle Muller ưu ái nhất vì sau khi trao 15 suất quà, cô đã giành gần một giờ để giao lưu, chụp ảnh với các cháu bé. Chia tay với Trường mầm non, tôi không quên đưa đoàn đến ngắm đầu nguồn Sông Ngàn Sâu. Nơi đây sông núi tuyệt đẹp. Anh Nguyễn Hoàng, đạo diễn bộ phim “Mê Công ký sự” nổi tiếng và nhà văn, nhà biên kịch Trầm Hương, tác giả kịch bản phim “Người đẹp Tây đô” cứ trầm trồ tấm tắc. Cả đoàn mải miết chụp ảnh phải nhắc mới dứt được cảm hứng để ra về. Trên đường về, tôi nhận được điện thoại của Phó Chủ tịch tỉnh Dương Tất Thắng hỏi về việc đoàn có hài lòng với sự tiếp đón của tỉnh và chuyến đi sáng nay không. Tôi nhờ cô phiên dịch hỏi Isabelle Muller, cô quay về phía tôi nở một nụ cời rạng rỡ: “Wonderful” (Tuyệt vời). 11 giờ 30 đoàn ghé Khách sạn Đức Tài ăn trưa. Một bữa tiệc thịnh soạn dọn ra với nhiều đặc sản được chế biến kỳ công, tuy nhiên mọi người vẫn chưa dứt được mạch cảm xúc với các các trải nghiệm vừa qua nên ít quan tam đến chuyện ăn uống mà chỉ tập trung trò chuyện. Thực sự nếu không lường trước, bữa trưa của chúng tôi có thể sẽ vỡ kế hoạch vì có rất nhiều người mến mộ, muốn tham dự để giao lưu với Isabelle Muller. 12h33, chúng tôi về đến Khách sạn Ngân Hà, chỉ muộn đúng 3 phút theo lịch trình. Tất cả thành viên của đoàn bấy giờ mới thấy rằng những lời cam đoan của tôi tối hôm qua là rất chính xác.


Phó Chủ tịch nước Trương Mỹ Hoa phát biểu tại buổi giao lưu. Ảnh TVS

14giờ 30, tôi dẫn Isabelle Muller vào Trung tâm Văn hóa Điện ảnh tỉnh, khán phòng sang trọng, có ma - két sự kiện rất đẹp và gần như kín chỗ với khoảng trên 600 người. Đặc biệt là Nguyên Phó Chủ tịch nước Trưng Mỹ Hoa và Đại sứ Nguyễn Hữu Tráng và các đồng chí lãnh đạo tỉnh, các sở, ban ngành đã có mặt từ rất sớm. Isabelle Muller và các cộng sự rất hài lòng vì ban đầu họ chỉ đặt vấn đề rất khiêm tốn là sự kiện diễn ra ở rạp hát và chỉ cần khoảng 150 khán giả là được. Buổi giới thiệu phim “Loan – Phượng Hoàng tái sinh” và sách “Loan- từ cuộc đời của một con chim phượng hoàng” dã diễn ra trong một không khí đầm ấm, thân thiện, cởi mở. Khi phim được trình chiếu, nó thực sự cuốn hút tất cả mọi người từ đầu đến cuối. Rất nhiều biểu cảm tốt đẹp của khán giả dành cho bộ phim. Isabelle Muller cảm nhận được điều đó và thể hiện rằng cô rất hạnh phúc. Thực sự là đến lúc này tôi mới thở phào nhẹ nhõm vì bộ phim vẫn chưa có giấy phép như lãnh đạo yêu cầu, đạo diễn Nguyễn Hoàng chỉ gửi cho tôi một cái giấy giới thiệu của Đài truyền hình Thành phố Hồ Chí Minh. Tôi đã dấu lãnh đạo chi tiết này vì tin ở những cảm nhận của mình khi xem trước bộ phim. Phần giới thiệu sách cũng diễn ra sôi nổi, ấn tượng với tự sự của bà Trương Mỹ Hoa, của Isabelle Muller, nhà văn Trầm Hương, đạo diễn Nguyễn Hoàng và gần chục vấn đáp với các độc giả trong khán phòng. Gần 17 giờ, khi đứng trên bục tuyên bố buổi giao lưu kết thúc, tôi như trút được một gánh nặng đặt trên vai từ gần một tháng nay.
9 giờ ngày 26/10, tôi tiễn Isabelle Muller và các cộng sự về Hà Nội. Cô ôm tôi rất chặt (tôi hơi ngượng và không quen với cách biểu lộ tình cảm này), và nói: “Thank you so much for your help” (Cảm ơn nhiều vì đã giúp đỡ). Về nhà đọc lời đề tặng của  Isabelle Muller trong cuốn “Loan- từ cuộc đời của một con chim phượng hoàng” tặng tôi: "Education does not come from what you read but comes from what you think of what you have read" (Tạm dịch: “Giáo dục không đến từ những gì bạn đọc mà đến từ những gì bạn suy nghĩ về những gì bạn đã đọc", ) tôi thấy Isabelle Muller thật là sâu sắc./.
Hà Tĩnh 29/10/2019
T.V.S


Thứ Bảy, 18 tháng 4, 2020

XUÂN DIỆU MÀ TÔI TỪNG BIẾT




THÁI VĂN SINH

Có thể nói đã là người Việt Nam yêu thơ thì hầu như ai cũng biết thơ Xuân Diệu, ít ra cũng dăm bảy câu thơ tình. Tôi biết Xuân Diệu và mê thơ ông khi còn là một cậu học sinh lớp 8 qua cuốn “Thi Nhân Việt Nam” của một người bạn thân cho mượn. Vào thập niên 70 của thế kỷ trước, những tác phẩm văn chương tiền chiến ở miền Bắc gần như không có, nhất là ở các tỉnh lẻ. Phải sau “giải phóng”, ở miền Bắc mới có được những tác phẩm văn chương tiền chiến do những người yêu thơ văn mang từ miền Nam ra. Tôi không nhớ rõ nhà xuất bản nào ở Sài Gòn đã in cuốn “Thi Nhân Việt Nam” mà tôi lần đầu được đọc ấy nhưng nhớ rất rõ đó là một cuốn sách được in ty – pô trên một thứ giấy màu vàng dày, quăn queo, sờn góc vì có quá nhiều người đọc. Và tôi cũng chỉ có vỏn vẹn một ngày được quyền sử dụng cuốn sách này. Tôi đã đi vào thế gới thơ mới một cách mộng mỵ với “thơ say” của Vũ Hoàng Chương, “thơ điên” của Hàn Mặc Tử và đặc biệt là thơ tình của Xuân Diệu từ cuốn sách ấy. Có gì tuyệt vời hơn đối với tuổi học trò, tuổi mới lớn, mới biết yêu mà lại gặp được thơ tình Xuân Diệu:

“…Yêu là chết ở trong lòng một ít
Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu…”
(Yêu)

 Thời bấy giờ hầu hiết những người mê văn thơ đều có những cuốn sổ thơ chép tay. Tôi đã trốn học và chép hầu hết thơ tình từ cuốn “Thi Nhân Việt Nam” và riêng với Xuân Diệu, tôi chép không sót một bài. Kỳ lạ là thơ Xuân Diệu đã ngấm vào tôi những cảm xúc mà cho đến nay đã 35 năm trôi qua, nhưng thi thoảng, tôi lại gặp những tinh tế của thơ ông ngay giữa cuộc đời trụi trần, gió bụi. Những giây phút hiếm hoi đó thật là thanh khiết, quý giá:

“…Bâng khuâng chân tiếc giẫm lên vàng,
     Tôi sợ đường trăng tiếng dậy vang…”
(Trăng)

Có một điều mà nhiều bạn trẻ hôm nay không biết là trước năm 1980, Xuân Diệu và các nhà thơ lãng mạn Việt Nam cũng như thơ của các ông không được đưa vào giảng dạy ở bậc học phổ thông. Sau 1980, một số nhà thơ và các sáng tác của họ mới có chỗ đứng trong chương trình và sách giáo khoa phổ thông. Và với Xuân Diệu, lúc này cũng chỉ có duy nhất bài thơ "Ngói mới" được đưa vào giảng 1 tiết ở lớp 12. Chỉ từ thập kỷ 90 của thế kỷ trước lại nay, học sinh mới được học nhiều hơn về Xuân Diệu, học tới 5 tiết ở lớp 11, trong 5 tiết đó có bài văn học sử về tác gia Xuân Diệu 2 tiết, giảng văn ba bài thơ của ông là các bài "Thơ duyên", "Đây mùa thu tới" và bài "Vội vàng" mỗi bài 1 tiết. Chính vì vậy, mặc dù biết thơ Xuân Diệu lần đầu qua “Thi Nhân Việt Nam” là vào năm lớp 8, nhưng phải đến năm lớp 12 tôi mới biết về ông qua một câu chuyện có thật mà nghe như giai thoại do thầy giáo Lê Thái Phong(1) kể trong giờ giảng bài “Ngói mới”. Thầy tôi kể rằng năm 1972, khi đang dạy ở cấp III Can Lộc, tỉnh Hà Tĩnh một hôm thầy được Phòng Văn hóa huyện mời nghe Xuân Diệu đọc thơ nhân chuyến về thăm quê nội. Biết Xuân Diệu về đọc thơ, đêm ấy người đến rất đông, chật cứng cả hội trường. Thời chiến tranh, điện chưa có, chỉ có cái đèn măng - sông nên nhiều người vì hiều kỳ, ồn ào chen lấn để nhìn cho rõ “dung nhan Xuân Diệu”. Quá bực mình khi nghĩ người ta đến “xem mặt” Xuân Diệu chứ không phải là “nghe thơ Xuân Diệu” ông đã nhảy lên đứng trên chiếc bàn chủ tọa, tay cầm cái đèn măng - sông soi vào mặt mình và nói lớn: “Cái mặt Xuân Diệu đây, ai thích nhìn Xuân Diệu thì nhìn cho kỹ rồi về, ai thích nghe thơ Xuân Diệu thì ở lại”. Cả hội trường sau đó im phăng phắc say mê nghe thơ Xuân Diệu. Chuyện này cho tôi biết một điều, tôn trọng, ngưỡng mộ một nhà thơ, là tôn trọng, ngưỡng mộ tác phẩm của họ chứ không phải là chính họ, nhất là cái diện mạo bên ngoài.
Mê Xuân Diệu nhưng phải đến tháng 10 năm 1982 tôi mới có dịp diện kiến ông, lúc đó, tôi mới vào năm thứ nhất Đại học Tổng hợp Hà Nội. Hôm đó Khoa Ngữ Văn mời nhà thơ nói chuyện thơ cho sinh viên năm thứ nhất tại giảng đường trước nhà C1, Ký túc xá Mễ Trì. Dù không học ở Khoa Ngữ Văn, nhưng tôi đã bỏ cả buổi học để tìm cách vào cho được giảng đường này để nghe Xuân Diệu nói chuyện thơ. Nhìn thấy nhà thơ lần đầu, tôi như người bị hút hồn, một khuôn mặt đẹp, mắt sáng, tóc bồng bềnh, một chất giọng truyền cảm. Tôi say mê nghe ông đọc thơ tình của ông. Tuy nhiên có một điều mà đến bây giờ tôi vẫn không thể lý giải được là tại sao trong buổi nói chuyện say sưa về thơ tình như vậy, mà một nhà thơ lớn như Xuân Diệu bỗng nói rất to một câu lạc lõng: “Các bạn sinh viên ơi, hãy yêu nhau đi nhưng đừng có đẻ!”. Phải chăng cái thời “thống đốc đi đặt vòng” thì nhà thơ cũng phải “đặt vòng” cho thơ?
Sau lần ấy, tôi vẫn thường ngẩn ngơ qua lại 24 Cột Cờ để mong gặp ông mà chẳng có cơ hội nào. Anh Trần Đình Hà học khóa trên bảo tôi, muốn gặp Xuân Diệu thì ra quán thịt chó vì ông rất mê thịt chó và kể cho tôi một câu chuyện rất khôi hài về ông. Chuyện là một lần Xuân Diệu đi chợ Hàng Da mua thịt chó thì gặp bà hàng rau đang cãi nhau ầm ĩ với cô mậu dịch thu vé chợ. Thời bao cấp, cán bộ mậu dịch rất hách dịch, thấy tội cho bà hàng rau bằng tuổi mẹ mình nhưng vẫn cứ bị cô mậu dịch chửi bới té tát, Xuân Diệu tay xách bịch thịt chó, dẹp đám đông vào can ngăn. Ông  quát cô mậu dịch: “Người ta bằng tuổi mẹ cô mà cô quá đáng thế”. Cô mậu dịch liếc thấy ông với bịch thịt chó thì tưởng ông là dân nghiện rượu nên không chấp, nói ông là ai mà dám vào đây can thiệp. Bấy giờ Xuân Diệu nổi khùng lên, vứt bịch thịt chó xuống đất, quát: “Tôi là nhà thơ Xuân Diệu đây, cô không biết à”. Cô mậu dịch nguýt xéo Xuân Diệu với giọng đanh đá: "Nhà thơ là cái thá gì, nhà báo tôi chẳng sợ nữa là nhà thơ. Ông biến đi cho tôi nhờ!”. Nghe nói lúc đó Xuân Diệu khựng lại, chết đứng như Từ Hải, rồi sau đó gầm lên chửi độc, lao vào cô mậu dịch định đánh. May mà mọi người can ngăn nên không xảy ra xô xát. Cái lạ là dù tức dận hầm hầm bỏ đi nhưng ông vẫn không quên nhặt bịch thịt chó. Giai thoại này thực hư thế nào không rõ nhưng nó cho ta thấy Xuân Diệu mê thịt chó đến mức nào. 
Cơ duyên chỉ cho tôi nhìn thấy Xuân Diệu vài ba lần sau đó ở các cuộc nói chuyện thơ ở Hà Nội nhưng chưa một lần được nói chuyện trực tiếp với ông. Thế rồi đến nửa kỳ 1 năm thứ 4 đại học, vào ngày 18 tháng 12 năm 1985, một ngày đông buốt giá, chúng tôi được tin ông mất. Tuy vậy phải chờ đến 4 ngày đám tang của ông mới được cử hành vì hai lý do. Lý do thứ nhất là phải chờ người bạn thơ chí cốt là nhà thơ Huy Cận lúc đó đang đi công tác ở Châu Phi về; Lý do thứ hai là phải xem mộ nhà thơ sẽ được chôn cất ở đâu Văn Điển hay Mai Dịch. Vậy nhưng rồi Huy Cận cũng không về kịp tang bạn. Và rồi phần mộ ông cũng được mai táng tại ngĩa trang Mai Dịch. Trời lạnh buốt giá thấu xương nhưng đám tang nhà thơ đông chưa từng có, đủ các thành phần xã hội từ bà hàng nước cho đến các học giả đáng kính và nhiều nhất là đám học sinh, sinh viên chúng tôi. Gần như hầu hết sinh viên ở Ký túc xá Mễ Trì đều đi đưa tiễn ông. Xe tang ông chất đầy hoa trắng tiến dọc phố Trần Hưng Đạo, sau xe, đi cạnh quan tài có một thiếu phụ chít khăn trắng theo kiểu để tang chồng. Tôi hỏi một anh khóa trên cùng đi rằng Xuân Diệu không có vợ sao lại có thiếu phụ như vợ đi đưa tang chồng. Anh ấy trả lời, đó là nữ đạo diễn Bạch Diệp, vợ cũ của Xuân Diệu. Mãi sau này vào tháng 8 năm 2013, khi nữ đạo diễn Bạch Diệp mất tôi mới biết thêm nhiều điều qua báo chí về mối tình đau khổ của hai người.
Trên 30 năm "Ông hoàng thi ca" của Thơ Mới, "Vua thơ tình" Xuân Diệu đã ra đi nhưng cái “ngai thơ”của ông vẫn mãi ngự trị trong lòng người yêu thơ, trong đó có tôi - một người có cái may mắn được vài ba lần diện kiến ông từ xa./.

Viết nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh Xuân Diệu.
Hà Tĩnh, 28/12/2015
T.V.S

 (1) Nhà giáo Ưu tú, dạy chuyên văn Trường cấp III Năng khiếu Phan Bội Châu – tỉnh Nghệ Tĩnh.






Thứ Sáu, 17 tháng 4, 2020

“GIỌT NẮNG VÔ THƯỜNG” MỘT ÁNG THƠ “THIỀN” TUYỆT ĐẸP

                                                                        
                 
                        THÁI VĂN SINH

        Khi cầm tập thơ Giọt nắng vô thường của Trần Huyền Tâm trên tay, không hiểu sao ngay lập tức tôi liên tưởng đến “tia nắng mặt trời” trong bài thơ “Và bây giờ là buổi tối” của nhà thơ Ý Salvatore Quasimodo, người đã đoạt giải Nobel Văn học năm 1959:

Mọi người cô đơn trong trái tim trái đất,
Bị xuyên qua bởi tia nắng mặt trời
Và bỗng nhiên bây giờ là buổi tối.
 (Hoàng Nguyên Chương dịch)

     “Và bây giờ là buổi tối” nói lên một triết lý cuộc đời rằng: mỗi con người từ khi sinh ra đã là duy nhất, là trung tâm của vũ trụ; đều đã từng có hoài bão, ước mơ sáng chói như một tia nắng mặt trời, nhưng rủi thay cuộc đời quá ngắn ngủi, chưa chi nắng đã tắt, chiều đã buông, thật là tiếc nuối.

      Tuy nhiên khi đọc hết hơn một trăm bài thơ trong “Giọt nắng vô thường” thì cảm nhận của tôi lại không hẳn như vậy mà là một áng thơ “THIỀN” tuyệt đẹp từ cảm xúc, tư duy cho đến bút pháp.

     Theo “Phật Quang Đại Từ điển” thì Thiền là sự kết hợp giữa thân thể và ý niệm trong thời gian, không gian hiện tại để nhận biết sự vật, hiện tượng và ý niệm. Thiền là tĩnh tâm, gạt bỏ mọi tạp niệm để nhận thức bản ngã và thế giới xung quanh một cách đúng đắn, sáng suốt nhất. Và có thể nói toàn bộ hơn một trăm bài thơ trong Giọt nắng vô thường phản ánh một quá trình THIỀN để ngộ thoát khỏi “Bến Mê”, để về “Bến Giác” trong cõi tạm của đời người:

Tôi thấy tôi trong quán trọ trần gian
Giá áo, túi cơm, quay cuồng, chật vật
Khi chén rượu nồng, cà phê phiêu ngất
Danh, lợi, tiền, tài, hỉ, nộ, sân, si

Và:

Chợt thấy mình thanh tỉnh cơn mê
Thảnh thơi bay giữa biển trời cao rộng
Tôi hòa vào ngàn mây, gió lộng
Hóa thành mưa xóa sạch mọi ưu phiền

Để rồi:

Tâm bừng lên một khối sáng tịnh nguyên
Từ sợi tóc của Đại sư Đại pháp
Tôi hóa thân thành nắng vàng ấm áp
Đi khắp đó đây đánh thức những thệ nguyền
(Tôi thấy)



        “Giọt nắng vô thường” của Trần Huyền Tâm tuyển chọn những bài thơ viết trong thời gian khá dài, khoảng trên 30 năm, từ những ngày còn trẻ cho đến hiện tại.  Và điều dễ nhận thấy, cái tinh thần, nội tâm sâu thẳm toát lên từ thơ Trần Huyền Tâm là luôn hướng đến cái dịu dàng, thuần khiết, nguyên sơ, thanh tĩnh. Khi nhìn ngắm thiên nhiên, khi chiêm nghiệm cuộc sống, khi nhớ nhung kỷ niệm, tháng ngày xưa cũ… đều là hướng về những điều cốt lõi đó. Chất Thiền dường như là một “bản tính tiên nghiêm”, ngấm vào người và vào thơ Trần Huyền Tâm, làm nên một giọng điệu thơ mộc mạc, giản dị, trong sáng đến thật thà. Chính vì thế, trong lời tựa đầu sách, nhà thơ Kim Chuông đã nhận xét: “Thơ Tâm không bụi bặm vỉa hè. Không phá phách, cuồng say. Không bi lụy, trái ngang, trụi trần, bi kịch… Thơ trong lành dịu mát, Thơ vươn tới một vẻ đẹp cao sang, thánh thiện”. Với “Giọt nắng vô thường”, Trần Huyền Tâm đã chọn cho mình làm một người bạn chân tình, dung dị giữa đời thường, dễ gần, dễ mến với độc giả hơn là chọn làm một “nghệ sỹ của ngôn từ” với những câu chữ sang chảnh thời thượng. Và đó cũng chính là sự ngộ sâu sắc về chữ Chân, gốc của cái Đẹp, để Tâm có những câu thơ như được vớt lên từ nguyên sơ cuộc sống:

Con sinh ra
Đêm tháng Tám rực trời
Gầu nước mát
Lao xao vầng trăng khuyết
Nhà mình nghèo
Mái tranh mòn vách liếp
Mảnh mo cau quạt không hết mồ hôi
(Bài ca đất)

Hay:

Vợ với chồng cũng đôi tình nhân sao
Cũng liêu xiêu điệu khèn bên dốc
Cũng say say câu hát tình đơn độc
Cũng âu lo xếp lại cất trong gùi
(Đêm chợ tình Sapa)

        Nói cách khác làm thơ đối với Trần Huyền Tâm là một quá trình gạn lọc bấy nhiêu sự xô bồ, ồn ã của cuộc sống đời thường để tìm ra những thứ “tinh chất” cần giữ lại, để duy trì song hành một cái “tâm rất tĩnh” bên dòng đời mải miết, cuồn cuộn chảy trôi về phía trước. Diễn giải điều này ra e hơi kiểu cách, nhưng sự thực là có sự song hành đó trong thơ Trần Huyền Tâm. Người đọc sẽ được cảm nhận rất rõ dòng chảy âm thầm, lắng đọng và dịu êm ngược về phía cội nguồn trong trẻo của bản thể trong thơ Trần Huyền Tâm. Cũng vì lẽ đó, trong Giọt nắng vô thường, thiên nhiên dường như được Trần Huyền Tâm ưu ái nhất. Lấy thiên nhiên là điểm tựa cho tâm thái của chính mình, Trần Huyền Tâm ngộ ra những triết lý có tính vũ trụ quan:

Tôi đi tìm mặt trời
Vầng mây tía đưa tôi lên đỉnh núi
Phía bên kia buổi chiều là đêm tối
Hoàng hôn rụng vỡ triền đê…
…Mặt trời trên cao, mặt trời trong tôi
Những vũ trụ trong veo, tụ về thêm bầu bạn
Giấc mơ tiên chẳng bao giờ biết cạn
Triệu triệu mặt trời mãi vằng vặc sáng soi
(Tôi đi tìm mặt trời)

Hay:

Và biển xanh khát vọng
Lại ôm trọn bầu trời
Dù khoảng cách xa vời
Trời vẫn trong lòng biển
 (Tình  yêu)
 
         Cái vô thường thiền định trong thơ Trần Huyền Tâm còn được thể hiện rất đậm đặc trong yếu tố thời gian. Giọt nắng vô thường có cả 4 mùa và 12 tháng. Số lượng các bài thơ về mùa, về tháng chiếm gần 1/3 số bài trong tập thơ. Và mỗi mùa, mỗi tháng đều có một gam sắc thời gian đặc sắc qua con mắt thơ Huyền Tâm.
     
Mùa Xuân:

Xanh chẳng thể xanh hơn
Vàng óng vàng mật nắng
Xám không còn trống vắng
Đỏ thắm duyên gọi mời
(Kìa xuân đang tới)

Mùa Thu:

Em đi qua một khoảng trời ngâu
Chớp nhì nhằng, ướt nhòa vầng mây bạc
Thương cái gió bên lối mòn ngơ ngác
Nắng không về khơi màu áo em phơi
(Tâm tình với mùa thu)
         
Mùa Hạ:

Hạ ngập ngừng như chưa vội bước sang
Như chưa muốn chứng lời xuân bái biệt
Khúc ly tao đã bao ngày da diết
Nay bần thần mùa lần lữa chuyển giao
(Khúc giao mùa)

Mùa Đông:

Chuốt nồng nàn ươm óng ả long lanh
Nắng mê mải nghiêng chiều vào rực rỡ
Tím đến tự nơi nào không biết nữa
Cứ mơ màng giăng dịu ngọt lời đêm
(Biển tím chiều cuối đông)

 Trần Huyền Tâm (giữa) với bạn bè trong  buổi lễ ra mắt tác phẩm -Thái Bình tháng 8/2018


        Và thời gian trong Giọt nắng vô thường là sự đong đếm của một cuộc hành trình tìm về nguồn cội, hành trình giải thoát khỏi sự mê lạc của con người ở chốn đời thường để ngộ ra những chân lý giản đơn mà không phải ai cũng hiểu:

Bao năm, bao kiếp, bao đời
Quẩn quanh lưu lạc, luân hồi bể dâu
Duyên tình trao gửi nơi nhau
Cũng là vay trước, trả sau thôi mà
(Nói với người xưa)

Để rồi:

Đặt tâm xuống, ngả u mê sẽ tắt
Nắng vô vi và mưa gió vô vi
Bao ưu phiền tan theo cánh thiên di
Chân - Thiện - Nhẫn đón đưa về Bờ Giác
(Viết cho không chỉ riêng mình)

       Thơ Trần Huyền Tâm thường là những hồi ức tâm tưởng, hành trình thơ chị là hành trình mải miết trở về, trở về với không gian cũ, những hình bóng thân yêu nhất, trở về với những thuần tịnh, đẹp đẽ của quá trình phản bổn quy chân. Đi là để trở về. Người đọc cảm nhận hành trình đó được xác lập khá rõ ràng trong “Giọt nắng vô thường”, một tiêu đề đầy tính cảm nghiệm. Thấy rõ Trần Huyền Tâm đang tìm tòi, rồi chia sẻ, giãi bày thể ngộ của mình về những câu hỏi lớn của đời người: Ta là ai? Ta từ đâu đến? Mục đích của cuộc nhân sinh là gì?...

      Làm thơ là một cuộc hành trình vất vả tìm đến những tâm hồn đồng điệu. Với “Giọt nắng vô thường”, Trần Huyền Tâm đã chạm được vào mỗi chúng ta một sự giác ngộ về cuộc đời với tam tự kim: CHÂN - THIỆN - NHẪN như là chìa khóa mở ra cánh cửa đi đến TƯƠNG LAI.

      Xin chúc mừng độc giả có một áng thơ Thiền để chiêm nghiệm cuộc đời!

      Xin chúc mừng Trần Huyền Tâm đã có nơi chốn đẹp đẽ để gửi gắm tâm tình thánh thiện của mình đến với mọi người, để “gửi hương cho gió” ngát thơm những đạo lý của Phật gia vốn đang rất cần cho cuộc sống hôm nay bay xa!

                                               Mùa Vu Lan Mậu Tuất 2018
                                                               TVS